Bộ đề tự luận Ngữ văn 8 có đáp án

Tải về
Lớp: Lớp 8
Môn: Ngữ Văn

Đề văn 8 tự luận có lời giải

Việc luyện tập với các đề tự luận là cách hiệu quả giúp học sinh lớp 8 nâng cao kỹ năng làm bài Ngữ văn, từ đọc hiểu đến viết đoạn, viết bài. Bộ đề tự luận Ngữ văn 8 có đáp án dưới đây được biên soạn bám sát chương trình, giúp học sinh rèn luyện tư duy, củng cố kiến thức và tự đánh giá năng lực một cách chính xác.

Mô tả tài liệu: File tải về định dạng word với độ dài 222 trang bao gồm 60 đề tự luận môn Ngữ văn 8 có đáp án.

Nội dung tài liệu ôn tập Ngữ văn lớp 8

STT

NỘI DUNG

Số đề

Trang

NỘI DUNG 1: TRUYỆN NGẮN

 

1

Đề 1: Phần Đọc - Hiểu: Truyện ngắn “Chị em họ” của Phan Thị Vàng Anh.

- Phần viết:

Câu 1. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật Thuỳ trong đoạn trích trên.

Câu 2. Từ ngữ liệu trong phần Đọc - Hiểu em hãy phân tích truyện ngắn “Chị em họ” của Phan Thị Vàng Anh.

8 đề

 

2

Đề 2: Phần Đọc – Hiểu: Truyện ngắn “Cảm ơn bố đã cho con thấy chúng ta nghèo như thế nào

Phần Viết

Em hãy viết bài văn phân tích đoạn truyện trên trong phần Đọc hiểu Cảm ơn bố đã cho con thấy chúng ta nghèo như thế nào

 

3

Đề 3: Phần Đọc - Hiểu: Truyện ngắn “Chiếc ấm sứt vòi” của Trần Đức Tiến

- Phần viết:

Câu 1. Viết bài văn phân tích truyện ngắn Chiếc ấm sứt vòi của Trần Đức Tiến.

 

4

Đề 4: Phần Đọc hiểu: Truyện ngắn Tạ Duy Anh

- Phần Viết:

Câu 1. Viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về sự cần thiết của việc làm chủ thời gian trong cuộc sống mỗi người hiện nay.

Câu 2. Anh (chị) hãy viết bài văn phân tích đoạn truyện ngắn trên của Tạ Duy Anh trong phần Đọc - Hiểu.

 

5

Đề 5: Phần Đọc hiểu: Truyện ngắn “Chỗ nào cũng nắng” của Nguyễn Ngọc Tư

Phần Viết:

Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích sự thay đổi trong cảm nhận về quê hương của nhân vật “anh” trước và sau khi mẹ qua đời trong đoạn trích ở phần đọc hiểu

Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về vấn đề: Tuổi trẻ cần có sự trải nghiệm

 

6

Đề 6: Phần Đọc - hiểu: Truyện ngắn “Bài học tuổi thơ” của Nguyễn Quang Sáng

- Phần viết

Câu 1. Từ phần đọc hiểu ngữ liệu trên, em hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về đức tính trung thực. Trong đoạn văn có sử dụng một câu ghép và thành phần tình thái. Gạch chân và chú thích.

Câu 2. Viết bài văn phân tích truyện ngắn Bài học tuổi thơ của tác giả Nguyễn Quang Sáng ở phần đọc - hiểu.

 

........

ĐỀ SỐ 1:

PHẦN I: ĐỌC - HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

CHỊ EM HỌ

(Phan Thị Vàng Anh)

Cả họ xem Hà như một tấm gương sáng. Hà sạch sẽ, vô cùng lễ phép, năm nào cũng đi thi học sinh giỏi văn. Thuỳ - một chị họ của Hà - nhận xét: “Thi giỏi văn có gì là hay?”. Dù thế ba mẹ Thuỳ vẫn quyết định đổi trường cho nó. Thuỳ mắt ngấn nước cãi: "Con không thích học chung với họ hàng! Con học ở đây quen rồi, ở đây có bạn nhiều!”. Hai người lớn nghiêm nghị bảo: “Ở đâu cũng sẽ có bạn thôi!” và mọi chuyện coi như được khoá lại.

Trong nhà, Thuỳ không có bạn, nói đúng ra, không ai rảnh mà làm bạn với Thuỳ. Chỉ có ngoại, nhưng ngoại lại ở xa. Ngoại nói: “Nó như con bụi đời con!”. Ngày đầu từ trường mới về, Thuỳ đạp xe ngay đến nhà ngoại. Trên đường đất, mưa tuôn nhẹ nhàng, đều đều, tưởng như không bao giờ tạnh nổi. Thuỳ nằm dài trên phản gỗ, bảo: “Con Hà chán lắm ngoại ơi!”. Ngoại cười: “Đúng rồi!... nó ngoan nhưng cứ rù rì, buồn lắm... Thế hai chị em có đi với nhau không?”.

Thuỳ cau có, dài giọng: "Không!... ra chơi, nó đứng tựa lan can vài giây rồi vào lớp ngồi tiếp. Con hỏi: “Đi chơi không?”. Nó bảo ở dưới sân đông, mệt lắm. Thế là con phải ngồi lại vì con có quen ai đâu!”. Thuỳ nhìn mưa len lỏi qua những tàn dừa, buồn rầu. Nó nhớ lớp xưa, trường xưa, nhớ đám bạn lắm mồm, nói suốt 5 tiết vẫn không hết chuyện. Ngoại bảo: "Con mệt thì ngủ đi!" rồi an ủi: “Không sao đâu, con Hà hiền, ngoan lắm!”. Thuỳ mơ màng ngủ, nó mơ thấy mình hỏi Hà sỗ sàng: “Có bệnh gì không mà sống lờ đờ như người ốm vậy?”. Hà trả lời ngây ngô: “Không bệnh, nhưng sợ đông người!”. Trong mơ cũng có mưa, và gió ẩm ướt thổi quanh, mát rượi.

Mẹ hỏi: "Sao không rủ em Hà đi học cho vui?". Thuỳ dắt xe lách qua khe cửa hẹp vanh, trả lời vội vàng: “Thôi, nó đi chậm như rùa, con lại thích đi học sớm!”. Nó tự nhủ: "Dở quá, từ đầu năm tới giờ, chưa khi nào mình là người đầu tiên vào trường cả!". Luôn luôn có những kẻ đến sớm hơn Thuỳ, hoặc là một cái xe dựng cô độc trong bãi còn vắng tanh, hoặc một anh chàng đứng tựa lan can lớp học nhìn như quét khắp sân trường rộng lớn. Thuỳ tự an ủi: “Chắc chúng nó gần nhà!” rồi ung dung vào lớp. Trên bảng đen, bài giảng lớp học chiều qua xen lẫn những câu viết đùa chữ to, chằng chịt. Thuỳ cất cặp rồi một mình giở ghế lên sẵn cho tổ trực, nó nghĩ: “Mình thật khoẻ, mình phải làm thật nhanh trước khi có người khác giúp!”. Xong việc, cũng là lúc tổ trực vác chổi vào, cả bọn xúc động, hỏi: "Thùy làm đấy à?". Hầu như ngày nào cũng thế mà vẫn không hết bất ngờ, chỉ có Hà ái ngại nhìn Thuỳ, nó nói nhỏ: "Chị làm thế làm gì, việc tụi nó mà!". Thuỳ đáp cụt lủn: "Rảnh thì làm!", nó muốn nói thêm: "Tao cũng không thích mày, mày trốn quét lớp luôn!", rồi lại thôi, nghĩ làm thế người ta sẽ cười hai chị em, đành lặng lẽ đi chơi chỗ khác.

Giỗ ông, tất cả đổ về vườn của bà. Thuỳ ngủ lại trước đó một đêm, giết gà, làm vịt. Xong việc, nó lấy xe chạy loăng quăng. Trên những con đường quê sau mưa thơm nồng hoa đêm, vài đứa trẻ con đi dạo dạo, dựa nhau hát vọng cổ ngân nga. Thuỳ nghĩ: "Tụi này vui thật!". Buổi sáng, các dì, cậu khen: “Thuỳ thật là chăm!”. Mẹ bảo: “Ui! lười học lắm!”. Thuỳ ngồi rửa rau, kêu to uất ức: "Con lười học hồi nào!". Mẹ nghiêm mặt, ý bảo: "Hỗn! Không được cãi người lớn!". Thuỳ im bặt. Nó nghe tiếng Hà nhỏ nhẹ: "Con chào ngoại, con mới tới! Con chào... Em chào... ". Mọi người lại khen với nhau: "Người lớn ghê!". Hà đứng xa xa, hỏi: "Chị Thùy có cần gì không, em phụ?". Thùy bảo: "Không! xong hết rồi!". Hà lên nhà trên các dì chú lại khen Hà giỏi, nghe đâu lại mới đi thi gì đó cho trường. Thuỳ đổ chậu nước, nó nghĩ: "Không ai biết rõ nó bằng mình. Nếu mình kể ra nó ích kỷ, nó không có bạn chơi, mọi người sẽ nói là mình ganh nó giỏi!". Rồi Thuỳ buồn bã nghĩ, mà sao mình không giỏi nhỉ? Hồi bé thầy vẫn khen mà? Hay tại lớn mình ham chơi? Nãy mẹ nói mình lười chắc cũng đúng... Nước trào ra khỏi chậu, ngoại giục: "Rửa đi Thuỳ! Con nghĩ gì vậy?" - " Con không nghĩ gì cả!". Rồi nó thả vào chậu nước đầy những nắm rau xanh ngắt.

Như cả họ đã dự đoán, cuối cùng Hà cũng lên truyền hình. Cả nhà chăm chú ngồi xem cảnh Hà ngồi đọc bài đêm khuya, bên cái đèn con mới tinh. Hà cầm chổi dịu dàng quét lớp.. Đến cảnh Hà giúp mẹ làm cơm, rửa chén... Thuỳ muốn kêu lên: "Ơ, mọi ngày dì Tư có để nó làm gì đâu!", nhưng kìm được, sợ mọi người lại bảo mình ganh! Nó chỉ hét lên bực tức khi thấy nhỏ Sương đứng cười bẽn lẽn bên Hà, kiểu bạn thân, cùng tiến: "Con này vẫn hay nói xấu con Hà, thế mà cũng vác mặt lên đây được!". Mẹ bảo: "Còn hơn mày không bao giờ được lên đâu!".

Thuỳ nghĩ, có cho lên, khéo mình cũng xin thôi. Nếu chị phóng viên hỏi: "Hằng ngày em làm gì?" chẳng lẽ lại tả, em hùng hục đi học sớm để bưng ghế, kéo bàn, em hay đạp xe lăng quăng ngoài đường. Rồi còn bạn thân, biết chọn đứa nào, bỏ đứa nào, cả một lũ lau nhau, ai mà lên ti vi cho hết được, rồi khéo lại giận nhau, lại bảo: " Mày quên tao" mà từ xưa tới nay, có khi nào Thuỳ quên ai được!

(Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, NXB Trẻ, 2011)

Câu 1. Xác định ngôi kể và điểm nhìn trần thuật qua truyện ngắn trên?

Câu 2. Hãy chỉ ra một chi tiết thể hiện tính cách đối lập giữa hai nhân vật Thuỳ và Hà. Nêu ý nghĩa của sự đối lập này.

Câu 3. Xác định các nhân vật trong câu chuyện?

Câu 4. Qua nhân vật Thùy, nhận xét quan niệm về con người của nhà văn.

Câu 5. Thông điệp chính mà tác giả muốn truyền tải qua câu chuyện trên là gì?

PHẦN II: VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. (2.0 điểm) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật Thuỳ trong đoạn trích trên.

Câu 2. (4.0 điểm) Từ ngữ liệu trong phần Đọc - Hiểu em hãy phân tích truyện ngắn “Chị em họ” của Phan Thị Vàng Anh.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

1

- Ngôi kể: Ngôi thứ ba

- Điểm nhìn: Nhân vật Thuỳ

 

2

- Chi tiết: Hà “lúc nào cũng ngoan ngoãn, lễ phép, được cả họ khen ngợi”, trong khi Thuỳ có phần bướng bỉnh, nổi loạn và thẳng thắn.

- Ý nghĩa: Sự đối lập này không chỉ làm nổi bật hai nhân vật mà còn phản ánh mối quan hệ xã hội và gia đình. Hà đại diện cho mẫu hình lý tưởng nhưng đơn điệu, trong khi Thuỳ đại diện cho sự chân thực và cá tính, tuy có phần nổi loạn.

 

3

- Các nhân vật trong truyện là: Thùy, mẹ Thùy, bà ngoại, Hà.

 

4

- Thùy là cô gái trẻ luôn sống thật với lòng mình, nhạy cảm, hòa đồng, yêu thương bạn bè, luôn tự vấn bản thân rồi tự tìm câu trả lời cho mình. Thùy có lúc cô đơn, bị tổn thương nhưng rồi tự lấp đầy khoảng trống bằng trái tim chân thật, bằng sự sẻ chia với mọi người.

Quan niệm con người: trên hành trình đi tìm hạnh phúc, con người luôn cô đơn, tổn thương, u uất nhưng cuối cùng luôn muốn hòa nhập vào những vui buồn của mọi người.

 

5

- Câu chuyện phản ánh những mâu thuẫn, áp lực trong gia đình và xã hội, đặc biệt là sự so sánh giữa các cá nhân.

- Tác giả nhắn nhủ rằng mỗi người đều có giá trị riêng, thay vì ganh đua hoặc so sánh, hãy tìm cách hiểu và chấp nhận bản thân.

- Đồng thời, câu chuyện cũng khuyến khích sự đồng cảm và tôn trọng đối với sự khác biệt trong tính cách và cuộc sống của mỗi người.

II. VIẾT (6 ĐIỂM)

 

 

a. Bảo đảm dung lượng (HS có thể viết bài văn ngắn hoặc đoạn văn) và cấu trúc bài làm có 3 phần Mở đoạn - Thân đoạn - Kết đoạn

 

 

b. Xác định đúng yêu cầu của đề bài: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật Thuỳ trong đoạn trích trên.

 

 

* Hình thức: Đảm bảo đoạn văn không xuống dòng với dung lượng 200 chữ, khoảng 20 dòng

* Nội dung:

Trong đoạn trích, tâm trạng của nhân vật Thuỳ được miêu tả với những cung bậc phức tạp, đan xen giữa ganh tị, buồn bã và sự lạc lõng. Thuỳ cảm thấy thua kém Hà – người em họ được cả gia đình ngợi khen bởi sự ngoan ngoãn, lễ phép và thành tích học tập xuất sắc. Mặc dù vậy, Thuỳ cũng có những nỗ lực riêng, như việc dậy sớm đi học để giúp tổ trực sắp xếp bàn ghế hay tự giác làm việc nhà, nhưng lại ít khi được công nhận. Nỗi cô đơn của Thuỳ càng rõ hơn khi cô không có bạn bè thân thiết, kể cả trong gia đình hay trường học. Tâm trạng của Thuỳ phản ánh mâu thuẫn nội tâm của một cô bé tuổi mới lớn, vừa muốn khẳng định bản thân, vừa khao khát được yêu thương và thấu hiểu.

 

 

1. Mở bài:

- Giới thiệu tác giả - tác phẩm

- Nêu luận điểm

2. Thân bài:

a. Hoàn cảnh và mâu thuẫn nội tâm của Thuỳ

+ Hoàn cảnh gia đình:

- Hà, em họ của Thuỳ, được xem là hình mẫu lý tưởng trong mắt cả họ: ngoan ngoãn, học giỏi, lễ phép.

- Thuỳ phải chuyển trường và học chung với Hà, dù không thích.

- Mẹ, người thân thường xuyên so sánh Thuỳ với Hà, khiến Thuỳ cảm thấy áp lực và tự ti.

+ Mâu thuẫn nội tâm:

- Ganh tị với Hà vì được mọi người yêu mến và khen ngợi.

- Buồn bã, lạc lõng vì không có ai thật sự thấu hiểu hay quan tâm đến mình.

b. Tâm trạng và suy nghĩ của Thuỳ qua các chi tiết cụ thể

+ Thuỳ trong mối quan hệ với Hà:

- Ganh tị với Hà nhưng không thể hiện ra, cố giữ thái độ dửng dưng: “Tao cũng không thích mày, mày trốn quét lớp luôn!”.

- Nhận xét Hà là người sống “lờ đờ như người ốm”, không có sức sống.

- Dù vậy, Thuỳ vẫn có phần tự ti, nghĩ rằng nếu nói xấu Hà, mọi người sẽ bảo mình ganh tị.

+ Thuỳ với gia đình và bạn bè:

- Cảm thấy lạc lõng trong gia đình, bị mẹ gán ghép là “lười học” dù bản thân rất chăm chỉ, siêng năng.

- Nhớ bạn bè ở trường cũ, buồn vì không có bạn ở trường mới.

+ Những nỗ lực riêng của Thuỳ:

- Tự giác làm việc nhà, giúp tổ trực ở trường nhưng không được ghi nhận.

- Cố gắng tạo giá trị cho bản thân nhưng luôn cảm thấy bản thân “thua kém” người khác.

c. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

- Tác giả khắc hoạ tâm lý nhân vật chi tiết, chân thực, phản ánh nội tâm phức tạp của một cô gái tuổi mới lớn.

- Lối kể chuyện gần gũi, ngôn ngữ sinh động, giàu cảm xúc.

- Hình ảnh, bối cảnh gợi nhiều ý nghĩa: mưa, con đường quê, lớp học vắng... làm nổi bật tâm trạng cô đơn, u uất của Thuỳ.

d. Thông điệp của tác giả

- Giá trị của sự thấu cảm: Mỗi người đều có những ưu điểm riêng, cần được công nhận và khuyến khích phát triển thay vì bị so sánh.

- Đừng để những áp lực từ gia đình và xã hội khiến trẻ em mất đi sự tự tin hay cảm giác được yêu thương.

- Kêu gọi tôn trọng sự khác biệt giữa các cá nhân và cách mỗi người tạo dựng giá trị cho bản thân.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại tâm trạng và suy nghĩ của Thuỳ là đại diện cho tâm lý của nhiều người trẻ tuổi.

- Bài học rút ra: Mỗi cá nhân cần học cách yêu thương và khẳng định giá trị bản thân, trong khi gia đình và xã hội cần biết lắng nghe và thấu hiểu hơn.

 

 

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.

 

 

e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lời văn sinh động, sáng tạo.

 

.............

Xem trọn bộ trong file tải về.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trong nhóm Lớp 8 thuộc chuyên mục Học tập của HoaTieu.vn. 

Đánh giá bài viết
1 6
Bộ đề tự luận Ngữ văn 8 có đáp án
Chọn file tải về :
Hỗ trợ Zalo
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
0 Bình luận
Sắp xếp theo
⚛
Xóa Đăng nhập để Gửi

Tải nhanh tài liệu

Bộ đề tự luận Ngữ văn 8 có đáp án

Ưu đãi đặc biệt
Hỗ trợ Zalo