Đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo

Tải về
Lớp: Lớp 9
Môn: Ngữ Văn
Bộ sách: Chân trời sáng tạo

Đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo 2026 - Tổng hợp mẫu đề kiểm tra giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 được Hoatieu chia sẻ trong bài viết dưới đây là các đề thi Văn lớp 9 giữa học kì 2 có đáp án chi tiết sẽ giúp các em có thêm tài liệu ôn tập cho kì thi giữa kì 2 môn Ngữ văn 9 sách Chân trời sáng tạo.

Mô tả tài liệu: File tải về bao gồm:

8 đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 sách Chân trời sáng tạo cấu trúc 100% tự luận. Trong đó 1 đề có ma trận, đáp án. 7 đề còn lại chỉ có đáp án.

Lưu ý: Đề thi chỉ mang tính chất tham khảo, tùy theo yêu cầu giáo dục của nhà trường thầy cô có thể tinh chỉnh lại sao cho phù hợp với tình hình thực tế.

Đề thi giữa học kì 2 lớp 9 môn Văn Chân trời sáng tạo - đề 1

I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)

Đọc văn bản sau:

DẢI BĂNG LỐM ĐỒM

Arthur Conan Doyle

Lược dẫn: Truyện Dải băng lốm đốm kể về một trong những vụ phá án của thám tử Sherlock Holmes.

Helen Stoner sống với cha dượng là bác sỹ Grimesby Roylott. Lúc còn sống, mẹ của Helen sở hữu một khoản lợi tức không dưới 1000 bảng Anh một năm. Bà đã chuyển giao toàn bộ số tiền đó cho người chồng sau là bác sỹ Roylott. Số tiền sẽ được chia cho Helen và người chị song sinh của cô - Julia Stoner - sau khi họ kết hôn.

Ngay sau khi người mẹ qua đời, cha dượng Roylott đã đưa hai chị em về sống trong trang viên cũ của gia tộc Roylott tại xứ Stoke Moran. Nhờ có số tiền mẹ Helen để lại mà họ trang trải được cuộc sống. Trong khoảng thời gian này, tính cách ông cha dượng thay đổi một cách đáng sợ. Thói bạo lực khiến bác sỹ Roylott trở thành nỗi kinh hoàng của mọi người.

Hai năm trước, cô chị gái Julia Stoner đính hôn với một thiếu tá thủy quân lục chiến. Một buổi tối vào hai tuần trước khi đám cưới diễn ra thì Julia bất ngờ chết một cách đầy bí ẩn. Trước đó, Julia có kể với Helen rằng cô ấy nghe thấy tiếng huýt sáo trong đêm. Câu nói cuối cùng mà Julia đã nói trong sự sợ hãi cực độ trước khi chết là "Dải băng! Dải băng lốm đốm!".

Một tháng trước, Percy Armitage - anh bạn thân lâu năm của Helen - ngỏ lời cầu hôn cô. Cha dượng cô không phản đối hôn sự này. Nhưng hai hôm trước, chái nhà ở phía tây được sửa chữa khiến bức tường phòng ngủ của Helen bị đục thủng một lỗ nên cô phải chuyển vào ngủ trong phòng của người chị gái đã quá cố. Và trong đêm tối, Helen đã nghe thấy tiếng huýt sáo. Sợ hãi khi nghĩ đến điềm báo tử mà chị cô từng đối mặt, ngay hôm sau, Helen đến gặp thám tử Sherlock Holmes nhờ giúp đỡ. Holmes đã đến trang viên của gia tộc Roylott tại xứ Stoke Moran để tìm hiểu sự việc. Buổi tối, Holmes cùng Watson canh gác trong phòng của Julia và phát hiện ra tội ác tinh vi, tàn độc của bác sỹ Roylott. Vì không muốn chia khoản tiền lợi tức cho hai chị em Helen sau khi họ thành hôn nên Roylott đã bày mưu thả con rắn độc nhằm sát hại con riêng của vợ.

Văn bản dưới đây trích từ phần cuối của truyện.

Làm sao tôi có thể quên được buổi canh gác đáng sợ đêm hôm đó chứ? Không gian im lìm, tuyệt nhiên không có một tiếng động, ngay cả hơi thở cũng không thể nghe ra. Nhưng tôi nhận thức được anh ngồi cách đó chỉ vài bước chân, vẫn đang chằm chằm quan sát, thần kinh căng ra như chão, y như cảm giác của chính tôi. [...]

Thình lình, một tia sáng lóe lên qua lỗ thông hơi rồi lập tức biến mất, theo sau đó là mùi dầu đốt và kim loại nóng chảy. Ai đó phòng bên đang thắp một ngọn đèn lồng tối. Tôi nghe thấy âm thanh của một chuyển động rất khẽ, sau đó tất cả lại chìm vào tĩnh lặng, mặc dù mùi ngày càng nồng hơn. Khoảng nửa giờ sau đó, tôi ngồi nghe ngóng trong căng thẳng tột độ. Đột nhiên, một âm thanh khác vang lên - rất nhẹ nhàng, êm dịu, giống như tiếng hơi nước phụt ra từ ấm nước. Ngay khi nghe thấy điều đó, Holmes bật dậy khỏi giường, đánh một que diêm và giận dữ quất gậy vào quả chuông.

“Anh trông thấy nó chứ?". Anh ấy hô lên. "Anh thấy không?". Nhưng tôi không thấy gì hết. Lúc Holmes bật đèn lên, tôi nghe thấy một tiếng huýt sáo rất nhỏ và rõ ràng. Nhưng vì ánh sáng chiếu đến quá đột ngột, đôi mắt mệt mỏi của tôi không kịp thích ứng nên không thể nhìn rõ thứ mà bạn tôi quật vào liên tục là gì. Nhưng tôi có thể trông thấy gương mặt anh tái nhợt không còn chút máu, lộ rõ vẻ kinh hoàng và ghê tởm. Anh đã ngừng quất gậy, bấy giờ đang theo dõi lỗ thông hơi.

Đột nhiên, một tiếng gào thảm thiết chưa từng thấy vang lên xé tan màn đêm tĩnh mịch. Âm thanh mỗi lúc một to hơn, chất giọng khàn đục thét lên vì đau đớn, sợ hãi và phẫn nộ, tất cả hòa trộn lại làm tạo thành một tiếng gầm rú kinh người. [...]

"Nó là cái gì vậy?" Tôi hổn hển nói.

"Nghĩa là mọi chuyện đã kết thúc rồi." Holmes trả lời. "Và có lẽ, sau tất cả, đó là kết cục tốt nhất. Hãy cầm khẩu súng lục theo và chúng ta sẽ sang phòng của bác sĩ Roylott."

Với vẻ mặt nghiêm nghị, anh thắp sáng đèn và dẫn đường ra hành lang. Anh gõ cửa phòng bác sĩ hai lần nhưng không hề có dấu hiệu của sự hồi đáp. Thấy vậy anh liền xoay tay nắm cửa và bước vào, tôi nối gót theo sau anh với khẩu súng đã lên nòng sẵn.

Một cảnh tượng vô cũng kỳ lạ đập vào mắt chúng tôi. Trên bàn đặt một ngọn đèn lồng tối với cửa chớp đang mở ra một nữa, chiếu một chùm sáng rực rỡ lên chiếc két sắt đang khép hờ. Bên cạnh chiếc bàn đó đặt một chiếc ghế gỗ, bác sĩ Grimesby Roylott đang ngồi trên đó, khoác chiếc áo choàng ngủ màu xám, hai mắt cá chân lộ ra phía dưới và bàn chân xó vào đôi dép Thổ Nhĩ Kỳ màu đỏ hở gót. Nằm vắt ngang trên lòng ông ta là cây roi được cuộn tròn lại mà ban ngày chúng tôi đã bắt gặp. Cằm ông ta hếch lên và đôi mắt dán chặt vào một góc trần nhà bằng cái nhìn kinh hãi và cứng đờ. Quanh vầng trán ông ta là một dải màu vàng kỳ lạ, điểm xuyết bằng những đốm màu nâu, dường như nó đang quấn chặt đầu ông ta. Khi chúng tôi bước vào, cả cơ thể ông ta bất động và không hề phát ra âm thanh nào.

"Dải băng! Dải băng lốm đốm kìa!" Holmes thì thầm.

Tôi tiến lên trước một bước. Bất chợt, thứ kỳ lạ đang quấn quanh đầu ông ta bắt đầu di chuyển. Từ trong đám tóc ông ta, một cái đầu nhọn hoắt với cái cổ vươn dài của một con rắn ghê tởm hiện ra.

"Đó là một con rắn lục đốm đầm lầy." Holmes kêu lên. "Loài rắn kịch độc bậc nhất Ấn Độ. Ông ta đã chết trong vòng mười giây sau khi bị nó cắn. Đúng là, ác giả ác báo, kẻ mưu mô đào hố chôn người lại tự rơi xuống chính cái hố đó. Hãy để sinh vật này trở về hang ổ của nó, sau đó đưa cô Stoner đến nơi nào đó trú tạm và báo cho cảnh sát mọi chuyện đã xảy ra đi." [...]

(Arthur Conan Doyle, Tuyền tập Sherlock Holmes, NXB Dân trí, 2024)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (1.0 điểm) Câu chuyện được kể bằng lời của ai? Nhận xét về việc sử dụng lời kể của nhân vật này đối với nội dung câu chuyện.

Câu 2. (1.0 điểm) Các yếu tố không gian, thời gian có tác động như thế nào đến quá trình khám phá vụ án của thám tử Sherlock Holmes?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra một chi tiết thể hiện manh mối quan trọng của vụ án. Phân tích ý nghĩa của chi tiêt đó trong quá trình khám phá vụ án của Sherlock Holmes.

Câu 4. (1.0 điểm) Em nhận xét như thế nào về khả năng quan sát của thám tử Sherlock Holmes? Làm rõ ý kiến của em bằng một chi tiết trong văn bản.

Câu 5. (1.0 điểm) Xác định câu đặc biệt trong trường hợp sau và nêu tác dụng của loại câu này. "Dải băng! Dải băng lốm đốm kìa!" Holmes thì thầm.

Câu 6. (1.0 điểm) Thám tử Sherlock Holmes cho rằng cái chết của bác sỹ Grimesby Roylott là do ác giá ác bảo. Em có đồng ý với nhận định đó hay không? Vì sao?

II. VIẾT (4.0 điểm)Kể một câu chuyện mà em tưởng tượng trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm.

---HẾT---

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ CHÍNH THỨC

Câu

Nội dung

Điểm

I. Phần đọc hiểu

6.0 điểm

1

- Câu chuyện được kể bằng lời của bác sĩ Watson.

- Nhận xét về việc sử dụng lời kể của nhân vật Watson: Watson là một nhân vật trong truyện đồng thời là người chứng kiến toàn bộ quá trình phá án của Sherlock Holmes. Việc sử dụng ngôi kể này có tác dụng tăng tính chân thật cho câu chuyện.

0.5

0.5

2

- Yếu tố không gian và thời gian đã tác động mạnh đến quá trình điều tra của Holmes:

+ Không gian: vụ án xảy ra trong căn phòng của Julia - thuộc trang viên cũ của gia tộc Roylott tại xứ Stoke Moran. Yếu tố này giúp Holmes khoanh vùng điều tra trong khuôn viên của căn nhà này.

+ Thời gian: vụ án xảy ra trong một đêm tối thời điểm mà bác sỹ Roylot thả con rắn độc vào phòng Julia của để gây án. Điều này buộc Holmes phải hết sức cẩn trọng để tránh gặp nguy hiểm khi phá án.

0.5

0.5

3

- Một chi tiết thể hiện manh mối quan trọng của vụ án: Julia chết một cách đầy bí ẩn trước khi đám cưới của cô diễn ra. Hai năm sau, Helen chuẩn bị kết hôn thì cũng gặp điềm báo tử y như chị gái - cô nghe thấy tiếng huýt sáo trong đêm.

- Ý nghĩa của chi tiết: Có người không muốn hai chị em Helen kết hôn, vì sau khi kết hôn hai chị em sẽ được chia số tiền lợi tức mà mẹ họ để lại. Người này chính là ông cha dượng đang giữ số tiền lợi tức - bác sĩ Roylott.

- HS cũng có thể lựa chọn chi tiết khác, miễn lý giải phù hợp.

(VD: Trước khi chết Helen nghe thấy tiếng huýt sáo trong đêm. Đó là tiếng huýt sáo bác sĩ Roylott gọi con rắn độc. Hoặc chi tiết câu nói cuối cùng Julia đã nói trước khi chết là "Dải băng! Dải băng lốm đốm!". ...)

0.5

0.5

4

- Thám tử Sherlock Holmes có khả năng quan sát tinh tường, không bỏ qua bất kì chi tiết nhỏ nào. Điều này giúp Holmes nhanh chóng tìm ra thủ phạm của vụ án.

- Gợi ý một số chi tiết tiêu biểu:

+ Holmes chằm chằm quan sát lỗ thông hơi vì thám tử biết đó là nơi con rắn độc chui qua

+ Khi nghe thấy âm thanh chuyển động rất nhẹ giống như tiếng hơi nước phụt ra từ ấm nước, Holmes nhận ra sự xuất hiện của con rắn, Holmes lập tức thắp đèn và quất gậy tới tấp vào nó.

+ Holmes quan sát cơ thể bất động của bác sỹ Roylott và giải mã được dải băng lốm đốm. Đó chính là con rắn lục đốm đầm lầy. Chính nó đã gây ra cái chết cho Julia vào hai năm trước.

- HS cũng có thể lựa chọn 1 chi tiết khác, miễn hợp lý.

0.5

0.5

5

- Câu đặc biệt: Dải băng! Dải băng lốm đốm kìa!

- Tác dụng: Chỉ sự tồn tại của sự vật, hiện tượng.

0.5

0.5

6

- HS bày tỏ được góc nhìn, quan điểm riêng.

- HS lý giải được lý do vì sao đồng ý hoặc không đồng ý với nhận định của thám tử Sherlock Holmes.

0.5

0.5

II. Phần viết

4.0 điểm

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn kể một câu chuyện tưởng tượng: Mở đầu truyện, Diễn biến truyện, Kết thúc truyện.

0.25

b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể một câu chuyện mà em tưởng tượng trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm.

0.25

c. Bài viết HS triển khai cần đảm bảo các yêu cầu sau:

0.5

* Mở đầu truyện:

- Giới thiệu nhân vật, bối cảnh, tình huống nảy sinh câu chuyện.

- Sử dụng ngôi kể phù hợp.

- Có phần dẫn dắt lôi cuốn, thu hút sự chú ý của người đọc.

* Diễn biến truyện:

Kể diễn biến câu chuyện đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Có nhân vật chính.

- Có một vài nhân vật phụ.

- Các nhân vật được khắc họa sống động qua ngoại hình, lời nói, ngôn ngữ, hành động.

- Có cốt truyện.

- Cầu chuyện được thuật lại với sự kiện, diễn biến hợp lý.

- Có các chi tiết cụ thể, sinh động.

- Kết hợp lời kể với lời miêu tả, biểu cảm.

- Làm nổi bật sự kiện, nhân vật chính/ tạo được một số điểm nhấn trong câu chuyện.

- Nội dung truyện kể có ý nghĩa, có tính giáo dục.

• Lưu ý:

ü Nếu HS kể câu chuyện đáp ứng được tất cả các yêu cầu ở trên, nhưng ít kết hợp lời kể với yếu tố miêu tả, biểu cảm thì không cho quá 1.5

ü Nếu HS kể câu chuyện đáp ứng được tất cả các yêu cầu ở trên, nhưng ít chi tiết tiêu biểu làm điểm nhấn và ít kết hợp lời kể với lời miêu tả, biểu cảm thì không cho quá 1.0

ü Nếu cốt truyện đơn điệu, thiếu các chi tiết tiêu biểu làm điểm nhấn và không kết hợp lời kể với lời miêu tả, biểu cảm thì không cho quá 0.5

2.0

v Kết thúc truyện:

- Phù hợp với diễn biến câu chuyện. (0.25)

- Gây ấn tượng hoặc gợi suy nghĩ đối với người đọc. (0.25)

0.5

d. Chính tả, ngữ pháp: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ và đặt câu

0.25

e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lời văn sinh động, sáng tạo.

0.25

* Lưu ý :

- Căn cứ vào khung điểm và thực tế bài làm của học sinh, giám khảo linh hoạt cho điểm sát với từng phần, đảm bảo đánh giá đúng năng lực của học sinh.

Đề thi giữa học kì 2 lớp 9 môn Văn Chân trời sáng tạo - đề 7

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

CẠNH MẸ CHA TA LẠI ĐƯỢC VUÔNG TRÒN

Nguyễn Đình Cường


Lúc lên đường con hứa với mẹ cha
Nước thống nhất con về xây tổ ấm
Vợ của con phải như là cô tấm
Ông bà vui khi có cháu bế bồng!

Mẹ cha chờ nay tóc bạc, răng long
Con mãi miết chỗ trạm dừng, ngọn suối?
Nơi rừng sâu sốt rét thừa, thiếu muối?
Sợ bạn buồn sao không dám chia tay?

Mẹ nằm mơ giữa giấc ngủ ban ngày
Con vẫn trẻ tuổi đôi mươi phơi phới
Rồi như thể cha vẫn ngồi chờ đợi
Bữa cơm trưa sau những buổi cày, bừa

Việc của trời chỉ có nắng và mưa
Người già cả đủ thứ lo mà tội
Mắt mẹ cha đã mờ nhìn không nổi
Khi con về đâu thấy rõ mặt con!

Ngồi chờ mong thân ngày một héo mòn
Cứ sớm tối xoa sờn mờ di ảnh
Nhưng niềm tin đã hết dần lấp lánh
Theo mẹ cha đi về chỗ con nằm

Cõi niết bàn ở nơi đó xa xăm
Con về cạnh bên đài sen - Mẹ đón!
Vẫn cưng con như những ngày đỏ hỏn
Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn!

( https://thleductho.hcm.edu.vn/tu-lieu/bai-tho-hay-viet-ve-ngay-27-7-canh-me-cha-ta-lai-duoc-vuong-tron-nguyen-dinh-cu/ctmb/84226/902736 ngày 6/9/2021)

Trả lời các câu hỏi/thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 (1,0 điểm). Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra biện pháp tu từ điệp vần trong khổ thơ sau:

Cõi niết bàn ở nơi đó xa xăm
Con về cạnh bên đài sen - Mẹ đón!
Vẫn cưng con như những ngày đỏ hỏn
Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn!

Câu 3 (1,0 điểm). Em hãy nêu ý nghĩa của hình ảnh “vuông tròn” trong hai câu thơ:

Vẫn cưng con như những ngày đỏ hỏn
Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn!

Câu 4 (1,0 điểm). Qua bài thơ, theo em thế hệ trẻ cần phải làm gì để xứng đáng với những hi sinh của các thế hệ cha anh đi trước?

II. PHẦNVIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cảm nhận của em về tình yêu thương mà cha mẹ dành cho những người con đi tham gia kháng chiến trong bài thơ trên.

Câu 2 (4,0 điểm).

Kể sáng tạo lại một câu chuyện em đã đọc mà em yêu thích nhất.

Đáp án

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

4,0

 

1

Thể thơ: 8 chữ

Hướng dẫn chấm:

- Học sinh trả lời được như đáp án: 1,0 điểm.

- Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm.

 

 

1,0

2

Biện pháp tu từ điệp vần: on trong các từ: đón, hỏn, tròn.

Hướng dẫn chấm:

- Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm.

- Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm.

 

 

1,0

3

- Ý nghĩa của hình ảnh “vuông tròn” trong hai câu thơ:
+ Đó chính là hình ảnh ẩn dụ cho tình yêu thương mà cha mẹ dành cho con.

+ Nó thể hiện sự vẹn toàn, biểu tượng cho những điều tốt đẹp nhất mà con có được khi ở cạnh cha mẹ. Cả cuộc đời mẹ dành trọn cho con tất cả.

Hướng dẫn chấm:

- Học sinh trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.

- Học sinh trả lời 01 ý như đáp án hoặc diễn đạt chung chung, chưa mạch lạc: 0,5 điểm.

- Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm.

 

 

1,0

4

Học sinh có thể xác định những hành động việc làm khác nhau nhưng phải có sức thuyết phục, phù hợp ngữ cảnh, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Gợi ý:

- Để xứng đáng với những hi sinh của các thế hệ cha anh đi trước thế hệ trẻ cần:

Gợi ý:

+ Trân trọng và biết ơn thế hệ cha anh đã chiến đấu và hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc.

+ Chăm chỉ học hành để sau này cống hiến tài năng của bản thân cho đất nước.

+ Tu dưỡng phẩm chất đạo đức, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

+ Giữ gìn truyền thống yêu nước của dân tộc...

Hướng dẫn chấm

- Học sinh nêu được 03 ý phù hợp: 1,0 điểm

- Học sinh nêu được 02 ý phù hợp: 0,5 điểm.

- Học sinh nêu được 01 ý phù hợp: 0,25 điểm

- Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai (không phù hợp): không cho điểm.

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

II

VIẾT

6,0

1

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cảm nhận của em về tình yêu thương mà cha mẹ dành cho những người con đi tham gia kháng chiến trong bài thơ trên.

2,0

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

- Hình thức: một đoạn văn biểu cảm.

- Dung lượng: khoảng 150 chữ.

 

0,25

b. Xác định đúng vấn đề cần làm: bộc lộ cảm nghĩ về tình yêu thương mà cha mẹ dành cho những người con trong bài thơ.

0,25

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề

Học sinh có thể bộc lộ cảm xúc theo những hướng khác nhau (cảm xúc về nội dung, cảm xúc về nghệ thuật hoặc đan xen cảm xúc cả nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ), tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau:

- Giới thiệu nhan đề bài thơ, tác giả và nêu ấn tượng chung.

- Cảm nghĩ về tình yêu thương mà cha mẹ dành cho những người con trong bài thơ.

+ Nội dung: Nỗi nhớ mong, đau đớn tột cùng của cha mẹ những người lính đã anh dũng, chiến đấu và hi sinh trong những năm tháng vệ quốc vĩ đại. Các anh ra đi để lại một khoảng trống không thể lấp đầy trong lòng cha mẹ

+ Nghệ thuật: Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc mà vô cùng tha thiết. Mạch cảm xúc của bài thơ như một dòng tự sự… khắc họa lên nỗi đau tột cùng của những người làm cha, làm mẹ.

-> Vì thế chúng ta càng biết ơn và trân trọng hơn về hòa bình và độc lập của ngày hôm nay.

 

 

 

 

0,5

 

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Trình bày được 01 ý cơ bản thể hiện cảm xúc về nội dung và 01 ý thể hiện cảm xúc về nghệ thuật để: bộc lộ cảm nghĩ về yêu thương mà cha mẹ dành cho những người con trong bài thơ.

- Cảm xúc được bộc lộ chân thành, trong sáng, xuất phát từ các chi tiết, hình ảnh của đoạn thơ.

- Cảm xúc được trình bày hợp lí, thuyết phục.

 

 

0,5

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

 

0,25

e. Sáng tạo:

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về đoạn thơ, có cách diễn đạt mới mẻ.

0,25

2

Kể sáng tạo lại một câu chuyện em đã đọc mà em yêu thích nhất.

4,0

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Viết truyện kể sáng tạo.

0,25

b. Xác định đúng vấn đề: kể sáng tạo một câu chuyện em đã đọc mà em yêu thích nhất.

0,5

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp cho bài văn kể chuyện:

- Xác định được các ý chính của bài viết.

- Sắp xếp được các ý hợp lí theo theo bố cục ba phần của bài văn kể.

Học sinh có thể triển khai bài viết theo nhiều cách, tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau:

+ Giới thiệu được bối cảnh, nhân vật và câu chuyện.

+ Xây dựng nhân vật với một số yếu tố như lai lịch, ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ.

+ Câu chuyện diễn ra như thế nào? (Sắp xếp chuỗi sự kiện theo trình tự hợp lí, sử dụng hiệu quả các yếu tố miêu tả và biểu cảm)

+ Câu chuyện kết thúc ra sao? Mang lại bài học, thông điệp gì?

1,0

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Sử dụng ngôi kể phù hợp (ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba).

- Triển khai được các sự việc theo trình tự nhất định.

- Kết hợp kể, miêu tả và biểu cảm hiệu quả.

 

 

1,5

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu và liên kết văn bản.

 

0,25

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc trong bài viết; có cách diễn đạt mới mẻ.

0,5

Tổng điểm

10,0

Đề thi giữa học kì 2 lớp 9 môn Văn Chân trời sáng tạo - đề 6

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

BÀ TÔI

(Tóm tắt phần đầu: Do xích mích cùng con trai và con dâu, bà của Minh - nhân vật “tôi”, chuyển đến sống cùng người em của mình. Tình cờ nghe được cuộc trò chuyện của những người hàng xóm, “tôi” mới biết bà đang đi bán bỏng ở bến tàu.)

Thì ra bà tôi lâu nay vẫn đi bán bỏng ngoài bến tàu. Khổ thân bà quá! Bà ơi, cháu thương bà lắm. Bà có nghe thấy tiếng cháu gọi thầm bà không? Lúc này bà làm gì, ở đâu? Sao bà không về với cháu đi bà!

Ôi, tôi như nhìn thấy bà tôi đang len lỏi đi dọc các toa tàu, giơ gói bỏng lên trước mặt hành khách nài nỉ: “Ông ơi, bà ơi mua bỏng giúp tôi đi!”. Nhưng con tàu vô hình cứ mang các hành khách chạy đi, để lại bà tôi tóc bạc, lưng còng, đứng chơ vơ giữa hai vệt đường ray… Chính tôi, tôi cũng vô tình như con tàu, tôi chẳng để ý gì đến bà tôi, tôi chỉ nghĩ đến những con quay, những quả bóng của tôi thôi! Nhiều lúc bà tôi đến chơi, mới ngồi với bà được một tí, tôi đã vội bỏ đi với những trò chơi của tôi rồi! Không, không thể để thế được. Tôi đã mười hai tuổi, lớn rồi, tôi cũng có quyền bàn chuyện nghiêm chỉnh với bố mẹ tôi chứ! Nghĩ rồi, tôi chạy ào xuống nhà. Tôi thấy mẹ tôi đang rửa bát, còn bố tôi đang xách nước lên.

– Bố mẹ ơi, – tôi gọi giục giã, – bố mẹ vào cả đây con có chuyện này muốn nói.

– Thằng này hôm nay lạ thật. – Bố tôi nói. – Có chuyện gì mà quan trọng vậy?

– Thì con cứ nói đi, – mẹ tôi nói, – mẹ vừa rửa bát vừa nghe cũng được.

– Không, cả mẹ nữa, mẹ vào đây con mới nói.

Mẹ tôi vào, nhìn tôi lo lắng:

– Hay con có chuyện gì ở lớp?

– Không.

– Hay con đánh nhau với bạn nào?

– Không. Chuyện nhà ta kia. Bố mẹ ơi, bố mẹ có thương bà không?

– Sao tự nhiên con lại hỏi thế? – Bố tôi hỏi lại tôi. – Mà bà làm sao kia mà thương?

– Bà chẳng làm sao cả. Bà đi bán bỏng ở bến tàu ấy, người ta bảo thế. Bố mẹ có biết không?

– Biết, – bố tôi có vẻ lúng túng, – nhưng thế thì sao.

– Còn sao nữa! – Tôi nghẹn ngào – Bà già rồi. Sao bố lại để bà như thế? Khổ thân bà!

– Bố có bắt bà phải thế đâu, – mẹ tôi trả lời thay cho bố, – vì bà thích thế chứ.

– Thích ư? Con chắc là bà chẳng thích đâu. Đời nào bà lại thích đi bán bỏng hơn ở nhà với con, với bố mẹ. Bà yêu thương bố mẹ và con lắm kia mà. Ôi, con cứ nghĩ đến những ngày nắng, ngày rét mà bà thì già thế, bà sao chịu nổi, bà ốm rồi bà chết như bà Thìn bên cạnh ấy thì sao. – Nói đến đây tôi oà lên khóc. – Ước gì bây giờ con đã lớn để con nuôi được bà!

Bố mẹ lặng lẽ nhìn tôi rồi lại nhìn nhau. Bố tôi đặt một bàn tay lên vai tôi rồi nói:

– Thôi con nín đi. Bố hiểu rồi. Con nín đi con!

Tôi cảm thấy giọng bố tôi hơi run và bàn tay nóng ran của bố truyền hơi nóng sang vai tôi. Mẹ tôi cũng nghẹn ngào:

– Con nói đúng, bố mẹ có lỗi với bà. Con đi ngủ đi, sáng mai bố mẹ sẽ xuống Vĩnh Tuy đón bà về đây. Gia đình ta lại sum họp như trước.

Tôi ngoan ngoãn nghe lời mẹ, lên giường nằm nhưng không làm sao chợp mắt được. Tôi cảm thấy phấp phỏng, vừa lo lại vừa vui. Chỉ sáng mai thôi, tôi lại được sống cùng với bà như trước. Nhưng nói dại, không hiểu sáng mai bà tôi có còn gặp được tôi không? Bà tôi vẫn thường hay nói với tôi: “Bà sống được ngày nào hay ngày ấy. Người già như ngọn đèn trước gió, không biết tắt lúc nào”.

(Trích “Bà tôi” Xuân Quỳnh. Bầu trời trong quả trứng , NXB Kim Đồng, 2005)

Câu 1( 0.5 điểm) Hãy xác định đề tài của văn bản,

Câu 2 (0.5 điểm). Câu văn in đậm trong đoạn sau sử dụng cách dẫn nào? Vì sao?

Ôi, tôi như nhìn thấy bà tôi đang len lỏi đi dọc các toa tàu, giơ gói bỏng lên trước mặt hành khách nài nỉ: “Ông ơi, bà ơi mua bỏng giúp tôi đi!”.

Câu 3 (1.0điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của ngôi kể trong truyện.

Câu 4 (1.0 điểm). Vì sao sau cuộc nói chuyện với bố mẹ, nhân vật “tôi” cảm thấy phấp phỏng, vừa lo lại vừa vui?

Câu 5. ( 1.0 điểm) Qua câu chuyện trên, nhà văn muốn chia sẻ với chúng ta những bài học gì trong cuộc sống?

PHẦN II. VIẾT (6.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm).

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “tôi” (Minh) trong đoạn trích văn bản “Bà tôi” ở phần đọc hiểu.

Câu 2 (4.0 điểm). Câu chuyện “Bà tôi” (Xuân Quỳnh) gợi ra cho người đọc suy nghĩ về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Hãy viết bài văn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề này.

Đáp án xem trong file tải về.

Mời các bạn sử dụng file tải về để xem đầy đủ chi tiết 8 đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 9 CTST.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Học tập - Lớp 9 của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
1 1.484
Đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo
Chọn file tải về :
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
0 Bình luận
Sắp xếp theo
⚛
Xóa Đăng nhập để Gửi
Đóng
Chỉ thành viên Hoatieu Pro tải được nội dung này! Hoatieu Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm