Đề kiểm tra giữa kì 2 Văn 8 Cánh Diều có đáp án

Tải về
Lớp: Lớp 8
Môn: Ngữ Văn
Bộ sách: Cánh diều

Đề thi Văn lớp 8 giữa kì 2 sách Cánh Diều dưới đây bao gồm tổng hợp mẫu đề kiểm tra giữa kì 2 môn Văn lớp 8 có ma trận, bản đặc tả ma trận đề thi và gợi ý đáp án chi tiết. Đây sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các thầy cô và các em học sinh trong kì thi giữa kì 2 sắp tới. Sau đây là nội dung chi tiết đề kiểm tra môn Ngữ văn lớp 8 giữa kì 2 Cánh Diều, mời các bạn cùng tham khảo. 

Đề thi Văn lớp 8 giữa kì 2 sách Cánh Diều

Mô tả tài liệu: File tải về bao gồm 3 mẫu đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn lớp 8 sách Cánh Diều tạo có ma trận, đáp án sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các em học sinh.

Lưu ý: Đề thi chỉ mang tính chất tham khảo giúp thí sinh rèn luyện thêm kĩ năng làm bài. Tùy theo yêu cầu giáo dục của nhà trường, thầy cô có thể tinh chỉnh lại để phù hợp với yêu cầu giảng dạy.

1. Ma trận đề thi giữa kì 2 Văn 8 Cánh Diều

TT

Kĩ năng

Nội dung

Mức độ nhận thức

Tổng % điểm

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

Vận dụng cao

TNKQ

TL

TNKQ

TL

TNKQ

TL

TNKQ

TL

1

Đọc hiểu

Truyện ngắn

4

0

4

0

0

2

0

0

60

2

Viết

Viết bài văn phân tích truyện

0

1*

0

1*

0

1*

0

1*

40

Tổng

20

10

20

10

0

30

0

10

100%

Tỉ lệ %

30%

30%

30%

10%

Tỉ lệ chung

60%

40%

2. Đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 8 Cánh Diều - đề 1

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Cha tôi

Nhà tôi có bốn người. Cha tôi thế hệ 5X, chớm già. Hơn nửa thế kỉ có mặt trên đời thì bốn mươi năm cha mặc áo nhà binh, cầm súng và xa nhà. Mẹ thế hệ 6X, sinh sau cha hơn một giáp, luôn chịu cảnh xa chồng. Chị Mai tôi thế hệ 7X đã gần ba mươi tốt nghiệp đại học, chị đi làm cho một doanh nghiệp Nhật Bản, suốt ngày ăn cơm tiệm.

Tôi, thế hệ 8X, mười chín tuổi, tốt nghiệp phổ thông hạng làng nhàng, thi vào đại học hai lần đều trượt. Sống theo ý mình luôn là cảm hứng thường trực và tự do muôn năm. Sống tự do theo ý thích, tôi suốt ngày chơi bời, đàn đúm. …đầu tóc thì đổi kiểu xoành xoạch, hết nhuộm hoe hoe vàng lại hấp màu lông chuột. Cha khoác ba lô về hẳn nhà, nghỉ hưu. Một ba lô quân phục màu phân ngựa. Hai đôi giầy đen một cũ một mới. Một mũ kê pi. Chín cái huân, huy chương đỏ rực, vàng chóe. Một đôi dép đúc mòn vẹt gót. Nghe nói cha cất giữ từ hồi ở Trường Sơn.

(…) Đến tận lúc về, con bé bạn tôi còn chưa hết hãi:

- Khiếp! Ông già mày ghê quá. Hỏi tao mà cứ như mật thám hỏi cung các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù đế quốc thực dân ấy.

- Bố tao nghiêm thế. Nhưng mà thương vợ con và mọi người lắm.

- Tao đếch thích kiểu thương ấy. Bận sau nếu có chuyện gì tao với mày ra quán cà phê cho tiện. Cánh cổng khép lại. Tôi mang theo nỗi ấm ức của thằng con trai mới lớn.

- Cha cứ làm kiểu này thì con hết bạn, hết chỗ chơi. Từ bây giờ có giời bảo cũng chẳng đứa nào dám đến nhà mình nữa.

- Mẹ con con ăn uống, đi lại, ngủ nghỉ, chơi bời không ổn chút nào. Ma túy, tệ nạn xã hội đầy ra đấy. Các con còn non nớt. Rất dễ sa ngã.

Tôi tức quá cãi lại:

- Bao nhiêu năm qua không có cha, mẹ con con vẫn sống tốt cơ mà. Cả cuộc đời cha ở trong quân đội, ngoài việc sinh bọn con ra cha đã làm được cái gì cho cái nhà này chưa mà cha trách mắng mọi người...

Nói chưa dứt, mắt tôi đã hoa cả lên. Một cái tát nổ đom đóm mắt từ bàn tay thô ráp quen cầm súng nhà binh. Tôi ngã dúi. Cha quát to:

- Chả nhẽ cha đi bộ đội bao nhiêu năm cống hiến cho đất nước là để cho con nói với cha bằng cái giọng chợ giời ấy hả? Bà ấy đâu rồi? Con hư tại mẹ.

Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Bà tôi mất từ lâu lắm rồi còn mẹ ở cửa hàng mỹ phẩm vẫn chưa về, chị Mai ngoan ngoãn thì đi học thêm Anh văn. Dường như lòng tự trọng của đứa con trai mới lớn chấm hết. Tất cả kìm hãm, dồn nén sự khó chịu của tôi từ lúc cha về đã quá đủ. Cha - một người cha đi biền biệt bao nhiêu năm để rồi bỗng dưng về nhà xới tung lên mọi thứ với kỷ luật nhà binh. Tôi nói với cha:

- Thôi cha! Đừng bao giờ nói với con về những ngày tháng cha đi bộ đội. Thời oai hùng xa lắm lắm rồi, cha ạ.

Sắc mặt của cha tôi đỏ hồng lại tím nhanh dễ sợ. Môi ông lắp bắp:

- Mà... mày... nói... ca... cái... gì?

Ông ôm đầu, đau đớn, ngồi phịch xuống giường gấp.

- Chẳng có gì cả! Con nói là, - Tôi nhấn mạnh từng chữ - con chán ghét cha và cả những điều cha nghĩ, những gì cha nói và cha làm. Cha đã biến cả nhà ta thành trại lính.

Tôi cãi lại cha và tôi lao khỏi nhà. Tôi bỏ đi lang thang trên phố. Đêm tôi không về. Sau này, khi “trời yên biển lặng”, tôi mới biết: Suốt đêm ấy, cha lo lắng sợ tôi dạt vòm đi bụi đời. Ông điện thoại báo hung tin về thằng con quý tử bỏ nhà cho bạn bè, đồng đội đã phục viên, xuất ngũ, nghỉ hưu biết. Người nọ vội vã gọi người kia lan truyền theo cấp số nhân, như thể chiến tranh sắp nổ ra, huy động gần hết một “tiểu đoàn quân” đi tìm... tôi.

(Trích “Cha tôi”, Sương Nguyệt Minh, vănnghe.ninhbinh.gov.vn)

Câu 1: (0,5 điểm) Văn bản thuộc thể loại:

A. Tiểu thuyết

B. Truyện ngắn

C. Truyện dài

D. Truyện cười.

Câu 2: (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là?

A. Tự sự

B. Miêu tả

C. Biểu cảm

D. Thuyết minh

Câu 3: (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản.

A. Ngôi thứ ba

B. Ngôi thứ hai

C. Ngôi thứ nhất

D. Có sự chuyển đổi ngôi kể

Câu 4: (0,5 điểm) Hình ảnh người “cha” trong đoạn trích hiện lên trong cảm nhận của nhân vật “tôi” như thế nào?

A. Một người lãng mạn

B. Rất nghiêm khắc, không quan tâm đến gia đình.

C. Nghiêm khắc nhưng thương vợ con và mọi người

D. Hay tếu, trêu đùa

Câu 5: (0,5 điểm) Nhân vật “tôi” đã nhận ra điều gì sau hôm cãi lại cha và bỏ đi lang thang trên phố?

A. Sự ghét bỏ của cha

B. Tình yêu thương của cha

C. Sự thù hận của mọi người

D. Tình yêu của mẹ

Câu 6: (0,5 điểm) Cho biết tác dụng của câu hỏi tu từ sau:

Sắc mặt của cha tôi đỏ hồng lại tím nhanh dễ sợ. Môi ông lắp bắp:

- Mà... mày... nói... ca... cái... gì?

A. Bộc lộ cảm xúc

B. Đe dọa

C. Để hỏi

D. Khẳng định

Câu 7: (0,5 điểm) Tình cảm của người cha dành cho con trong văn bản có gì đặc biệt?

A. Sự nghiêm khắc mong con có thể tránh xa những thói hư tật xấu trong xã hội, trở thành người có ích.

B. Đau lòng khi nghe con buông những lời lẽ cay đắng và tự trách khi đánh đứa con của mình.

C. Thao thức, tìm kiếm khi nhân vật tôi bỏ nhà đi.

D. Tất cả các ý trên đều đúng

Câu 8: (0,5 điểm) Những từ “5X, 6X, 7X, 8X” là:

A. Từ ngữ toàn dân

B. Từ ngữ địa phương

C. Biệt ngữ xã hội

D. Từ tượng hình.

Câu 9: (1,0 điểm) Em có nhận xét gì về thái độ của nhân vật Tôi trong câu nói:

“- Chẳng có gì cả! Con nói là, - Tôi nhấn mạnh từng chữ - con chán ghét cha và cả những điều cha nghĩ, những gì cha nói và cha làm. Cha đã biến cả nhà ta thành trại lính”

Câu 10: (1,0 điểm) Em rút ra được bài học gì từ câu chuyện trên?

II. VIẾT (0,4 điểm) Viết bài văn phân tích truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao.

Đáp án đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 8 Cánh Diều

Xem trong file tải về.

3. Đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 8 Cánh Diều - đề 2

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA

Môn: Ngữ văn 8

TT

Kĩ năng

Nội dung/ đơn vị kiến thức

Mức độ nhận thức

Tổng

%

điểm

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

Vận dụng cao

TNKQ

TL

TNKQ

TL

TNKQ

TL

TNKQ

TL

1

Đọc -hiểu

Truyện

4

0

3

1

0

2

0

0

60

2

Viết

bài văn

Phân tích tác phẩm truyện

 

0

1*

0

1*

0

1*

0

1*

40

Tổng

20

5

15

25

0

25

0

10

100

Tỉ lệ (%)

25

40

25

10

Tỉ lệ chung

65

35

BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA

Xem trong file tải về.

ỦY BAN NHÂN DÂN TP ….

TRƯỜNG THCS ….

(Đề thi gồm 02 trang)

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II

NĂM HỌC ….

MÔN: NGỮ VĂN 8

Thời gian làm bài: 90 phút

(Không kể thời gian giao đề)

Phần I. ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Đôi tai của tâm hồn

Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn vừa cũ, lại rộng nữa.

Cô bé buồn tủi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ: “Tại sao mình lại không được hát ? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao?". Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.

"Cháu hát hay quả !". Một giọng nói vang lên "Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền đứng dậy và chậm rãi bước đi.

Hôm sau, khi cô bé đến công viên đã thấy cụ già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước, khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô bé lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Cụ vỗ tay nói lớn: "Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá !”. Nói xong cụ già lại chậm rãi một mình bước đi.

Cứ như vậy nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trắng không.

"Cụ già ấy đã qua đời rồi. Cụ ấy điếc đã hơn 20 năm nay. " - Một người trong công viên nói với cô. Cô gái sững người. Một cụ già ngày ngày vẫn chăm chú lắng nghe và khen cô hát lại là một người không có khả năng nghe?

(https://truyencotich.vn/qua-tang-cuoc-song)

Trắc nghiệm (3.0điểm): Chọn phương án trả lời đúng cho mỗi câu hỏi từ 1 đến 6 và viết chữ cái in hoa đứng trước phương án đó vào giấy làm bài thi.

Câu 1. Cơ sở chính để xác định thể loại của văn bản trên là:

A.Thể hiện ý kiến, quan điểm của người viết, có luận điểm, luận cứ và lập luận.

B.Thể hiện được tình cảm, cảm xúc của người viết để khơi gợi lòng đồng cảm nơi người đọc.

C.Có nhân vật, sự việc sắp xếp theo bố cục: mở đầu, diễn biến, kết thúc và thể hiện được ý nghĩa.

D.Là loại văn xuôi ngắn gọn, mang tính chất chấm phá, bộc lộ trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc của người viết.

Câu 2. Người kể chuyện trong văn bản trên là ai ?

A. Cô bé B. Tác giả

C. Ông cụ D. Người thày giáo

Câu 3. Nguyên nhân chủ yếu nào khiến cô bé trở thành một ca sĩ ?

A. Vì cô bé bị loại ra khỏi dàn đồng ca.

B. Vì có lời khen, của ông cụ tóc bạc trắng.

C. Vì cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.

D. Vì cô bé muốn hát cho ông cụ tóc bạc trắng nghe .

Câu 4. Chủ đề của văn bản trên là:

A. Lối sống sẻ chia, giàu tình thương yêu. B. Lòng khoan dung

C. Lối sống khiêm nhường biết lắng nghe. D. Lòng hiếu thảo

Câu 5. Câu hỏi : “ Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao?" mục đích để:

A. Hỏi. B.Cầu khiến.

C. Khẳng định. D. Bộc lộ cảm xúc .

Câu 6. Nhận xét nào đúng nhất để nói về cụ già trong câu chuyện ?

A. Là một người bền bỉ kiên nhẫn.

B. Là một người có nghị lực phi thường.

C. Là một người luôn biết quan tâm động viên người khác.

D. Là một người trung thực, thật thà.

Trả lời các câu hỏi sau (3.0 điểm)

Câu 7.(0,75 điểm).Tình huống bất ngờ trong câu chuyện là sự việc nào ?

Câu 8.(1.25 điểm).Theo em, vì sao câu chuyện có tên là: “Đôi tai của tâm hồn” ?

Câu 9.(1.0 điểm). Câu chuyện đã gửi tới bạn đọc những bài học gì ?

Phần II. VIẾT (4,0 điểm)

Viết bài văn phân tích truyện ngắn: Đôi tai của tâm hồn ở phần Đọc hiểu.

-----------------Hết.------------------

Đáp án xem trong file tải về.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trong nhóm Lớp 8 thuộc chuyên mục Học tập của HoaTieu.vn. 

Đánh giá bài viết
4 4.641
Đề kiểm tra giữa kì 2 Văn 8 Cánh Diều có đáp án
Chọn file tải về :
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
0 Bình luận
Sắp xếp theo
⚛
Xóa Đăng nhập để Gửi
Đóng
Chỉ thành viên Hoatieu Pro tải được nội dung này! Hoatieu Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm